Con trâu là con vật được nhắc nhiều nhất trong ca dao, tục ngữ về nghề nông của người Việt, vì suốt hàng nghìn năm trồng lúa nước, trâu là sức kéo chính và là tài sản lớn nhất của một nhà nông. Câu "con trâu là đầu cơ nghiệp" gói gọn vị trí đó. Từ ruộng đồng, hình ảnh con trâu đi vào thành ngữ, truyện cổ, tranh dân gian, nghề thủ công và cả cách người Việt gọi tên năm Sửu.
"Con trâu là đầu cơ nghiệp"
Câu tục ngữ ngắn này nói đúng một sự thật kinh tế của làng xưa. Với một gia đình nông dân, ruộng là đất sống, nhưng muốn làm ruộng thì phải có sức kéo. Không có trâu, phải đi thuê, đi mượn, đổi công, và mùa vụ luôn bị chậm hơn nhà người. Một con trâu khoẻ có thể phục vụ nhiều năm, đẻ nghé thành vốn. Vì thế mua được trâu là một mốc lớn trong đời, giống như dựng nhà hay cưới vợ:
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy thật là khó thay.
Thành ngữ "ruộng sâu trâu nái" chỉ sự giàu có bền vững: ruộng trũng giữ nước, cấy được, và trâu cái để đẻ thêm trâu. Câu "ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng" về sau thêm một lớp nghĩa về tình cảm gia đình, nhưng vẫn dựa trên chuẩn mực giàu có đó.
Bài ca dao "Trâu ơi, ta bảo trâu này"
Đây có lẽ là bài ca dao về trâu được nhiều người thuộc nhất:
Trâu ơi, ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.
Điều đáng chú ý là giọng điệu: người nông dân không ra lệnh mà "bảo", trò chuyện với con trâu như với một người cùng làm. "Ta đây trâu đấy" đặt người và trâu ngang hàng trong công việc. Hai câu cuối là một lời hứa: còn lúa thì còn cỏ cho trâu. Bài ca dao cho thấy quan hệ giữa người và trâu ở làng Việt không chỉ là chủ và vật nuôi, mà là bạn đồng hành.
Một câu khác vẽ cả bức tranh lao động gia đình:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Thành ngữ, tục ngữ: con trâu thành bài học đời
| Câu | Nghĩa thường hiểu |
|---|---|
| Trâu chậm uống nước đục | Chậm chân thì chịu phần kém |
| Trâu buộc ghét trâu ăn | Người không được hưởng thì ghen với người được hưởng |
| Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết | Kẻ mạnh tranh chấp, người yếu bị vạ lây |
| Đàn gảy tai trâu | Nói điều hay với người không hiểu, uổng công |
| Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy | Ai ở đâu thì sống, làm ăn theo nơi ấy |
| Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã | Người giống nhau thì tìm đến nhau (thường mang ý chê) |
| Đầu trâu mặt ngựa | Kẻ hung hăng, côn đồ |
Có thể thấy hai mặt trong cách người Việt nhìn con trâu. Trong lao động, trâu là bạn quý. Trong ngôn ngữ đời thường, trâu lại hay gắn với sự chậm chạp, to xác, không hiểu chuyện. Hai cách nhìn này không mâu thuẫn: người ta quý con trâu vì sức, và cũng mượn chính dáng vẻ chậm rãi của nó để nói về tính người.
Nhiều thành ngữ như "đàn gảy tai trâu" hay "ngưu tầm ngưu" có gốc Hán; chữ "ngưu" trong Hán văn chỉ chung trâu bò. Người Việt dùng chúng tự nhiên tới mức ít ai còn nghĩ đó là chữ vay mượn.
Truyện cổ và truyền thuyết
Vì sao trâu không có răng hàm trên
Một truyện cổ tích được kể ở nhiều vùng, với nhiều dị bản: Ngọc Hoàng sai trâu xuống truyền lời cho loài người, nhưng trâu nói sai, khiến con người phải làm lụng vất vả. Trâu bị phạt xuống trần cày ruộng giúp người, và trong lúc bị đuổi xuống thì ngã gãy hàm răng trên. Đây là truyện giải thích dân gian. Thực tế sinh học thì mọi loài nhai lại như trâu, bò, dê, cừu đều không có răng cửa hàm trên, chỉ có một tấm đệm sừng, và vẫn có răng hàm để nhai.
Trâu vàng và Hồ Tây
Một truyền thuyết về Hồ Tây (Hà Nội) kể rằng một vị thiền sư thời Lý đúc chiếc chuông lớn, tiếng chuông vang xa tới phương Bắc; con trâu vàng (kim ngưu) ở đó tưởng tiếng mẹ gọi, lần theo tới đây, quần thảo làm sụt đất thành hồ. Vì vậy hồ còn được gọi là đầm Kim Ngưu. Đây là truyền thuyết, có nhiều dị bản về nhân vật và tình tiết, không phải sử liệu.
Năm Sửu: người Việt gọi là trâu
Trong mười hai con giáp, chi Sửu ở Trung Hoa ứng với con bò (ngưu), nhưng người Việt quen gọi là năm con trâu. Sự khác biệt nhỏ này cho thấy con vật nào gần gũi nhất với đời sống người dân thì được chọn để gọi tên. Tương tự, chi Mão ở Việt Nam là mèo chứ không phải thỏ. Mỗi dịp Tết năm Sửu, hình ảnh con trâu lại xuất hiện khắp nơi, từ thiệp chúc Tết tới linh vật đặt ở các quảng trường.
Trâu trong tranh dân gian và nghề thủ công
- Tranh Đông Hồ: bức "Chăn trâu thổi sáo" vẽ cậu bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, một hình ảnh thanh bình của làng quê. Tranh khắc gỗ, in màu tự nhiên trên giấy điệp.
- Sừng trâu: được làm tù và để gọi nhau trong làng, trong rừng; làm lược, đồ mỹ nghệ ở các làng nghề sừng nổi tiếng quanh Hà Nội.
- Da trâu: xưa dùng bọc mặt trống, làm dây thừng, đồ da; nhiều trống lớn ở đình chùa căng mặt bằng da trâu.
- Nông cụ: cày, bừa, ách, xe trâu là những hiện vật hay gặp trong bảo tàng về nông nghiệp.
Con trâu trong nghi lễ làng
Ở nhiều vùng, trâu có mặt trong nghi lễ đầu năm, lễ cầu mùa, xuống đồng. Một số cộng đồng ở miền núi phía Bắc có những ngày dành riêng cho trâu: cho trâu nghỉ, cho ăn ngon, làm lễ tạ ơn sau mùa vụ, mỗi nơi một cách và một ngày khác nhau. Ở Tây Nguyên, trâu gắn với các nghi lễ lớn của buôn làng. Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn và nhiều nơi khác là một chủ đề riêng, bài này không đi sâu.
Đi tìm con trâu trong văn hoá hôm nay
- Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội): trưng bày nông cụ, xe trâu, hiện vật về nghề nông của nhiều dân tộc.
- Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh): xem tranh chăn trâu và cách in tranh khắc gỗ.
- Sách: các tuyển tập ca dao, tục ngữ người Việt có nhiều câu về trâu, kèm chú giải. Tác phẩm "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam" của Vũ Ngọc Phan là sách nền tảng cho người muốn đọc sâu.
- Làng quê trung du, miền núi phía Bắc: nơi còn thấy cảnh trâu cày ruộng bậc thang, trâu xuống suối chiều hè.
Câu hỏi thường gặp
"Con trâu là đầu cơ nghiệp" nghĩa là gì?
Câu tục ngữ nói rằng với nhà nông xưa, con trâu là tài sản lớn và quan trọng nhất, vì là sức kéo để làm ruộng và có thể đẻ nghé thành vốn. Có trâu thì mới chủ động được mùa vụ.
Bài ca dao "Trâu ơi ta bảo trâu này" nói gì?
Bài ca dao là lời người nông dân trò chuyện với con trâu như một người bạn cùng làm, rủ trâu ra đồng cày và hứa còn lúa thì còn cỏ cho trâu ăn. Nó thể hiện tình cảm gắn bó giữa người và trâu trong làng Việt.
Vì sao năm Sửu ở Việt Nam là năm con trâu?
Chi Sửu trong mười hai con giáp ở Trung Hoa ứng với con bò, nhưng người Việt gọi là con trâu vì trâu gần gũi với đời sống nông nghiệp lúa nước hơn. Tương tự, chi Mão ở Việt Nam là mèo thay vì thỏ.
"Ruộng sâu trâu nái" là gì?
Đây là thành ngữ chỉ sự giàu có bền vững của nhà nông: ruộng trũng giữ nước cấy được và trâu cái để đẻ thêm trâu. Câu "ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng" dùng chuẩn giàu có này để nói về tình cảm gia đình.
Vì sao trâu không có răng hàm trên?
Truyện cổ tích kể trâu bị phạt và ngã gãy răng trên, nhưng đó là giải thích dân gian. Thực tế trâu và mọi loài nhai lại chỉ thiếu răng cửa hàm trên, thay bằng tấm đệm sừng, còn răng hàm để nhai thì vẫn có đủ.