Đàn trâu Việt Nam giảm dần trong hơn hai mươi năm qua, từ gần ba triệu con đầu những năm 2000 xuống khoảng hơn hai triệu con theo thống kê những năm gần đây. Nguyên nhân chính là máy cày, máy gặt thay sức kéo, bãi chăn thu hẹp, trâu sinh sản chậm hơn bò, và lao động trẻ rời nông thôn. Con trâu không biến mất mà đổi vai: từ sức kéo sang nuôi lấy thịt, và co dần về vùng trung du, miền núi.
Đàn trâu đã thay đổi thế nào
Theo số liệu của cơ quan thống kê, đàn trâu cả nước đạt gần ba triệu con vào khoảng đầu những năm 2000, giữ ở mức đó một thời gian rồi giảm dần qua từng năm. Những năm gần đây, con số chỉ còn khoảng hơn hai triệu con. Cùng giai đoạn đó, đàn bò lại tăng. Nếu như trước kia số trâu và bò không chênh nhau quá xa, thì nay bò đã nhiều hơn trâu vài lần.
Sự thay đổi không đều giữa các vùng:
| Vùng | Xu hướng |
|---|---|
| Trung du miền núi phía Bắc | Vẫn là vùng nhiều trâu nhất cả nước, giữ vai trò cày kéo ở ruộng bậc thang và nuôi thịt |
| Bắc Trung Bộ | Đàn trâu còn lớn, nhưng giảm ở vùng đồng bằng ven biển |
| Đồng bằng sông Hồng | Giảm mạnh, trâu cày gần như vắng bóng ở nhiều nơi |
| Đồng bằng sông Cửu Long | Từ vùng nhiều trâu kéo trước kia, nay còn rất ít |
| Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên | Trâu ít hơn bò nhiều, nuôi ở vùng có sông suối |
Vì sao trâu giảm
Máy móc thay sức kéo
Đây là lý do lớn nhất. Máy cày tay, máy kéo nhỏ, máy gặt đập liên hợp lan rộng ở đồng bằng từ những năm 1990, 2000. Một máy cày làm việc bằng nhiều con trâu, không cần ăn khi không làm, không ốm vì nóng. Với ruộng phẳng, lớn, đã dồn điền đổi thửa, máy móc gần như thắng tuyệt đối. Khi trâu không còn là sức kéo bắt buộc, lý do lớn nhất để mỗi nhà nuôi một con trâu cũng mất đi.
Bãi chăn thu hẹp
Đất bãi ven sông, đồi trọc, đất công trước kia là nơi chăn trâu nay thành đất trồng cây, khu công nghiệp, nhà ở, đường giao thông. Ao hồ, vũng nước, nơi trâu đằm mỗi trưa hè, bị lấp hoặc ô nhiễm. Trâu cần nước để giải nhiệt hơn bò, nên mất vũng đằm là mất điều kiện sống.
Trâu đẻ chậm hơn bò
Trâu động dục lần đầu muộn, mang thai gần 11 tháng, khoảng cách lứa thường 18–24 tháng, lại hay động dục kín khó phối nhân tạo. Bò lai thì đẻ nhanh hơn, có mạng lưới thụ tinh nhân tạo rộng khắp, có nhiều giống cao sản để lai. Khi người nuôi chuyển từ "nuôi để cày" sang "nuôi để bán thịt", nhiều hộ chọn bò vì vòng quay vốn nhanh hơn.
Ít chương trình cải tạo giống
So với bò, trâu nhận được ít đầu tư về giống. Không có "Sind hoá" cho trâu ở quy mô tương tự; tinh trâu và dẫn tinh viên quen làm với trâu không nhiều. Đàn trâu ở nhiều nơi nhỏ dần vì chọn ngược và cận huyết.
Người chăn đi vắng
Nuôi trâu kiểu truyền thống cần người dắt đi chăn, đưa xuống nước, cắt cỏ. Khi lao động trẻ đi làm công nhân, ra thành phố, ở nhà chỉ còn người già và trẻ nhỏ, nhiều nhà bán trâu vì không còn ai chăn.
Con trâu đổi vai: từ sức kéo sang thịt
Ngày nay ở phần lớn đồng bằng, trâu được nuôi để bán thịt hơn là để cày. Thịt trâu có chỗ đứng riêng: ít mỡ, được ưa ở vùng cao, trong các món đặc sản như thịt trâu gác bếp, thịt trâu khô. Bên cạnh trâu nuôi trong nước, Việt Nam còn nhập khá nhiều thịt trâu đông lạnh từ Ấn Độ, cung cấp cho chế biến và bếp ăn. Điều đó cho thấy nhu cầu thịt trâu vẫn có, chỉ là sản xuất trong nước chưa đáp ứng được bằng giá.
Ở vùng trung du và miền núi, trâu vẫn giữ vai trò kép: cày ruộng bậc thang, nương dốc nơi máy khó vào, và là "ngân hàng sống" của hộ gia đình. Bán một con trâu là có tiền xây nhà, cho con đi học, lo việc lớn.
Trâu ở các nước láng giềng
Không chỉ Việt Nam, nhiều nước trồng lúa nước ở châu Á cũng chứng kiến đàn trâu giảm khi cơ giới hoá. Thái Lan từng có đàn trâu rất lớn và chứng kiến số trâu sụt mạnh từ cuối thế kỷ 20; nước này đã có những chương trình khuyến khích nuôi trâu và bảo tồn giống trâu bản địa, kể cả mô hình cho nông dân vay trâu bò thay vì vay tiền. Philippines lại chọn hướng khác: lai trâu nội với trâu sông để tạo trâu sữa và trâu thịt, thông qua một trung tâm quốc gia chuyên về trâu. Những kinh nghiệm này cho thấy khi trâu không còn là sức kéo, muốn giữ đàn trâu thì phải tìm cho nó một giá trị kinh tế mới.
Vì sao vẫn nên giữ trâu
- Tận dụng thức ăn thô: trâu sống tốt trên rơm, cỏ già, phụ phẩm mà bò cao sản không chịu được.
- Hợp vùng ẩm, lầy, dốc: nơi bò kém thích nghi, máy khó vào.
- Nguồn gen: trâu nội như trâu ngố, trâu Yên Thế là nguồn gen thích nghi lâu đời, mất đi rất khó phục hồi. Các chương trình bảo tồn và bình tuyển trâu đực giống của ngành chăn nuôi có mục đích giữ lại những nguồn gen này.
- Văn hoá và du lịch: hình ảnh trâu trên ruộng bậc thang, trâu đằm suối là một phần cảnh quan và bản sắc làng quê, thu hút khách tham quan ở nhiều vùng.
- Đa dạng sinh kế: hộ nuôi cả trâu và bò ít rủi ro hơn hộ chỉ nuôi một loài.
Nuôi trâu trong thời cơ giới: hướng đi thực tế
- Nuôi trâu sinh sản kết hợp vỗ béo: giữ trâu cái nền, bán nghé hoặc nuôi trâu thịt; vỗ béo trâu loại thải trước khi bán.
- Trồng cỏ và dự trữ thức ăn: thay cho bãi chăn đã mất; trâu ăn cỏ trồng và rơm ủ tốt.
- Giữ hoặc làm vũng đằm: không có nước thì đừng nuôi trâu nhốt quy mô lớn.
- Dùng trâu đực giống tốt, đổi định kỳ: chống chọn ngược và cận huyết.
- Liên kết đầu ra: với cơ sở chế biến thịt trâu khô, nhà hàng đặc sản, chợ phiên vùng cao.
Học thêm ở đâu
Số liệu đàn trâu theo năm và theo tỉnh được Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) công bố trong niên giám hằng năm, là nguồn tốt để xem xu hướng ở địa phương mình. Viện Chăn nuôi có các báo cáo về hiện trạng và định hướng phát triển chăn nuôi trâu. FAO có nhiều tài liệu so sánh chăn nuôi trâu ở các nước châu Á. Muốn thấy trâu trong vai trò cũ, hãy đến các vùng ruộng bậc thang miền núi phía Bắc vào mùa cày cấy, khoảng đầu hè.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam hiện có bao nhiêu con trâu?
Theo thống kê những năm gần đây, cả nước có khoảng hơn hai triệu con trâu, giảm so với gần ba triệu con đầu những năm 2000. Phần lớn trâu tập trung ở trung du miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.
Vì sao đàn trâu ở Việt Nam giảm?
Nguyên nhân chính là máy cày, máy gặt thay sức kéo, bãi chăn và vũng nước thu hẹp, trâu sinh sản chậm hơn bò và ít được cải tạo giống, cùng với việc lao động trẻ rời nông thôn.
Bây giờ nuôi trâu để làm gì?
Ở đồng bằng, trâu chủ yếu được nuôi lấy thịt. Ở miền núi, trâu vẫn cày ruộng bậc thang, nương dốc và là tài sản tích luỹ lớn của hộ gia đình, đồng thời gắn với văn hoá và du lịch.
Nuôi trâu hay nuôi bò tốt hơn?
Không có câu trả lời chung. Trâu tận dụng thức ăn thô và hợp vùng ẩm, lầy, dốc nhưng đẻ chậm; bò lai đẻ nhanh và có nhiều giống cao sản nhưng đòi thức ăn tốt hơn. Nên tính theo nguồn thức ăn, nước và đầu ra ở địa phương.
Có cần bảo tồn giống trâu nội không?
Có. Các nhóm trâu nội như trâu ngố, trâu Yên Thế mang nguồn gen thích nghi lâu đời với khí hậu và thức ăn địa phương, mất đi rất khó phục hồi. Ngành chăn nuôi có chương trình bình tuyển và bảo tồn để giữ nguồn gen này.