Gia SúcWiki
Tìm
Thức ăn & đồng cỏ trồng

Dự trữ thức ăn cho trâu bò mùa khô và mùa rét: tính lượng và cách trữ

Dự trữ thức ăn là tính số ngày thiếu cỏ nhân nhu cầu cả đàn, tích trữ từ cuối mùa mưa bằng ủ chua, rơm cuộn, cỏ khô; kho phải khô, kín mưa, chống chuột và cháy.

Dự trữ thức ăn cho trâu bò mùa khô và mùa rét: tính lượng và cách trữ

Dự trữ thức ăn cho mùa khô và mùa rét là tính trước số ngày thiếu cỏ, nhân với nhu cầu của cả đàn, rồi tích trữ từ lúc cỏ thừa bằng ủ chua, rơm cuộn, cỏ khô và phụ phẩm, cất ở nơi khô ráo, kín mưa, chống chuột và cháy. Miền Bắc thiếu cỏ chủ yếu khoảng tháng 12 tới tháng 2 vì rét, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ thiếu vào mùa khô, thường từ cuối năm tới tháng 4–5. Đàn không đói lúc đó là đàn không sụt cân, không chậm động dục và ít bệnh khi trời trở.

Vì sao phải dự trữ chứ không mua lúc cần

Đúng lúc mình thiếu cỏ thì cả vùng cũng thiếu. Rơm, cỏ khô, bã khó mua, giá cao, chất lượng thất thường. Trong khi vào mùa mưa, cỏ trên ruộng thừa, cỏ già đi vì không cắt kịp, thân ngô sau thu bắp bị đốt bỏ. Dự trữ là chuyển phần thừa của mùa này sang mùa kia.

Đàn bị đói mùa khô hay mùa rét không chỉ gầy đi. Bò cái gầy chậm động dục, khoảng cách lứa đẻ kéo dài; bê nghé sinh ra yếu; con vật suy kiệt dễ mắc bệnh, mùa rét miền núi dễ chết rét. Phần mất đó lớn hơn nhiều so với tiền túi nilon và công ủ.

Lịch thiếu cỏ theo vùng

VùngMùa thiếu cỏ chínhThời điểm nên tích trữ
Miền núi, trung du phía BắcRét, sương muối, khoảng tháng 12 tới tháng 2Tháng 8 tới tháng 10: ủ ngô, cỏ voi; thu rơm vụ mùa
Đồng bằng Bắc BộRét và cuối đông, cỏ mọc chậmRơm vụ mùa, ủ chua cuối mùa mưa
Bắc Trung BộRét cuối năm và nắng nóng gió Lào mùa hèHai đợt: cuối mùa mưa và đầu hè
Nam Trung BộMùa khô dài, có nơi gần nửa nămMùa mưa ngắn: tranh thủ ủ ngô, cao lương, cỏ; trữ rơm
Tây NguyênMùa khô, khoảng cuối năm tới tháng 4Cuối mùa mưa: ủ chua cỏ, ngô; phụ phẩm cà phê, sắn (dùng có giới hạn)
Đông Nam Bộ, Tây Nam BộMùa khô, vùng ven biển có thêm xâm nhập mặnRơm sau thu hoạch lúa, ủ chua cỏ cuối mùa mưa

Lịch trên mang tính tổng quát; trong mỗi vùng còn khác nhau theo độ cao, có tưới hay không. Cách tốt nhất là nhìn lại sổ ghi của chính trại mình xem năm trước thiếu từ ngày nào tới ngày nào.

Tính lượng cần dự trữ

Công thức gốc:

Lượng cần trữ = số con quy đổi × nhu cầu mỗi con mỗi ngày × số ngày thiếu − phần đồng cỏ, ruộng cỏ còn cho được

Ví dụ giả định, trại có 5 bò trưởng thành khoảng 300 kg:

  1. Nhu cầu chất khô mỗi con khoảng 2,5% thể trọng, tức khoảng 7,5 kg mỗi ngày.
  2. Cả đàn cần khoảng 37,5 kg chất khô mỗi ngày.
  3. Mùa thiếu kéo dài 90 ngày: tổng khoảng 3.375 kg chất khô.
  4. Giả sử ruộng cỏ mùa khô vẫn cho được khoảng một phần ba nhu cầu, phần cần trữ còn khoảng 2.250 kg chất khô.
  5. Quy ra thức ăn: nếu trữ bằng cỏ ngô ủ chua có khoảng 30% chất khô, cần khoảng 7.500 kg ủ chua; nếu dùng một nửa rơm (khoảng 88% chất khô) và một nửa ủ chua, cần khoảng 1.280 kg rơm và 3.750 kg ủ chua.
  6. Cộng thêm khoảng 10–20% cho hao hụt, mốc, rơi vãi.

Bê, nghé, con hậu bị quy đổi theo khối lượng. Đàn còn đẻ thêm trong mùa thiếu thì tính dư ra.

Các hình thức dự trữ

Hình thứcƯu điểmNhược điểmBảo quản
Ủ chua (ngô, cỏ)Giữ dinh dưỡng tốt, bò ăn ngon, để được nhiều thángTốn túi, công; hở là mốcKín khí, có mái, chống chuột
Rơm khô, rơm cuộnRẻ, nhiều, dễ trữNghèo dinh dưỡng, cần bổ sungKhô, có mái, kê cao, xa lửa
Rơm ủ urêTăng giá trị rơm cho gia súc trưởng thànhPhải tuân thủ an toàn urê; không cho con nonKín, có mái
Cỏ khô (phơi)Nhẹ, dễ vận chuyển, hợp dê cừuCần nắng liên tục; mưa giữa chừng là hỏngKhô tuyệt đối, có mái
Cây họ đậu phơi khô, bột láBổ sung đạm mùa thiếuSố lượng thường ítBao kín, khô
Bánh dinh dưỡng, đá liếmBổ sung khoáng, năng lượng, có khi có đạm phi proteinKhông thay được thức ăn thôCó mái

Trồng thêm để giảm thiếu

  • Giống cỏ chịu hạn như các giống Brachiaria, Mulato cho vùng có mùa khô; cây họ đậu như keo dậu xanh lâu hơn cỏ hoà thảo.
  • Tưới cho một phần ruộng cỏ để vẫn có cỏ xanh mùa khô, ưu tiên cho bò sữa, bê, bò cái chửa.
  • Trồng ngô hoặc cao lương vào cuối mùa mưa để thu ủ chua đúng trước mùa thiếu.
  • Tận dụng vụ đông ở miền Bắc: thân lá ngô đông, dây khoai lang.

Kho dự trữ: ba mối nguy cháy, ẩm, chuột

  • Cháy: rơm, cỏ khô là chất dễ cháy. Kho cách xa bếp, chỗ đốt rác, dây điện câu tạm; không hút thuốc trong kho. Rơm còn ẩm đánh đống to có thể tự nóng lên và bốc cháy.
  • Ẩm: mái dột, nền thấm là thức ăn mốc từ dưới lên. Kê pallet, lót bạt, kiểm tra mái trước mùa mưa.
  • Chuột: cắn túi ủ chua, ăn cám. Đặt túi trên giá, có lưới quanh kho, dọn sạch chỗ ẩn nấp.

Xếp kho theo nguyên tắc nhập trước dùng trước, ghi ngày lên từng lô.

Dùng dự trữ cho khéo

  • Ưu tiên theo nhóm: thức ăn tốt nhất (ủ chua, cỏ xanh tưới) cho bò sữa, bò cái chửa cuối kỳ, bê nghé; rơm cho bò trưởng thành không chửa.
  • Bắt đầu dùng sớm một chút, trộn dần với cỏ tươi khi cỏ bắt đầu thưa, để dạ cỏ quen trước khi cắt hẳn cỏ tươi.
  • Kiểm kê giữa mùa: đếm số túi còn lại, chia cho số ngày còn lại. Thiếu thì quyết định sớm: mua thêm, giảm đàn, bán bớt con kém.
  • Giảm đàn có kế hoạch: bán bò già, bò chậm sinh trước mùa thiếu thay vì nuôi chúng gầy đi rồi bán rẻ.

Sai lầm hay gặp

  • Đốt rơm ngoài đồng rồi mùa rét đi mua rơm.
  • Để cỏ già trên ruộng mùa mưa thay vì cắt về ủ.
  • Trữ đủ cho số con hiện tại mà quên bê sắp đẻ, bò mua thêm.
  • Kho không mái hoặc mái dột, mất cả mẻ.
  • Không kiểm kê giữa mùa, phát hiện hết thức ăn khi còn một tháng mới có cỏ.

Bắt tay làm và học thêm

Lịch dự trữ một năm

Lấy một tờ lịch năm, tô màu ba khoảng: tháng cỏ thừa, tháng cỏ vừa đủ, tháng thiếu cỏ (dựa vào ghi chép năm trước hoặc hỏi các hộ chăn nuôi lâu năm quanh mình). Đánh dấu vụ thu hoạch lúa, ngô trong vùng. Rồi đặt mốc việc: ngày trồng ngô ủ chua, ngày thu và ủ, ngày thu rơm cuộn, ngày kiểm kê kho, ngày mời thú y tiêm phòng trước mùa rét hay mùa khô. Dán tờ lịch ở cửa kho. Cuối mùa thiếu, ghi lại thực tế đã dùng bao nhiêu, còn dư hay hụt, để năm sau tính sát hơn.

Học thêm ở đâu

Sở Nông nghiệp và Môi trường và Trung tâm khuyến nông các tỉnh miền núi phía Bắc thường hướng dẫn dự trữ thức ăn trước mùa đông; các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên có khuyến cáo chuẩn bị thức ăn cho mùa khô. Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì có tài liệu và mô hình ủ chua, cỏ khô. FAO có nhiều tài liệu phổ thông về ứng phó thiếu thức ăn mùa khô cho chăn nuôi nhỏ ở vùng nhiệt đới. Các bài về ủ chua, rơm ủ urê và giữ ấm mùa rét trên trang này đi kèm với bài này.

Câu hỏi thường gặp

Mùa khô cho bò ăn gì?

Mùa khô nên dùng thức ăn đã dự trữ như cỏ ngô ủ chua, cỏ ủ chua, rơm khô hoặc rơm ủ urê, cỏ khô, kết hợp phần cỏ còn lại trên ruộng có tưới. Bổ sung thức ăn tinh và khoáng cho bò sữa, bò chửa, bê. Thức ăn nên được tích trữ từ cuối mùa mưa.

Cần dự trữ bao nhiêu rơm cho một con bò?

Tính theo nhu cầu chất khô khoảng 2,5–3% thể trọng mỗi ngày, nhân với số ngày thiếu cỏ, trừ phần cỏ còn có. Ví dụ bò 300 kg cần khoảng 7,5 kg chất khô mỗi ngày; nếu chỉ dùng rơm thì cần khoảng 8–9 kg rơm mỗi ngày. Rơm nghèo dinh dưỡng nên tốt hơn là kết hợp với ủ chua và bổ sung.

Miền Bắc thiếu cỏ vào tháng nào?

Miền núi và trung du phía Bắc thiếu cỏ chủ yếu vào khoảng tháng 12 tới tháng 2 do rét và sương muối làm cỏ ngừng mọc, cỏ cháy. Nên tích trữ từ khoảng tháng 8 tới tháng 10. Thời điểm cụ thể khác nhau theo độ cao và từng năm.

Bảo quản rơm cho bò thế nào?

Phơi rơm thật khô trước khi đánh đống hoặc cuộn, cất ở nơi có mái, kê cao khỏi nền, xa nguồn lửa. Rơm còn ẩm đánh đống lớn có thể mốc và tự bốc cháy. Rơm mốc, đen phải bỏ, không cho gia súc ăn.

Có nên bán bớt bò trước mùa khô không?

Nếu tính ra lượng thức ăn dự trữ không đủ, bán bớt bò già, bò chậm sinh trước mùa thiếu thường tốt hơn nuôi chúng gầy đi rồi bán giá thấp. Quyết định nên dựa trên kiểm kê kho và nhu cầu đàn. Đây là cách tính rủi ro, không có đáp án chung cho mọi trại.

Mở app Gia Súc

Huýt sáo gọi chó, dắt cả đàn về chuồng lúc hoàng hôn

Mở app Gia Súc

Bài viết liên quan

Mở app Gia Súc

Huýt sáo gọi chó, dắt cả đàn về chuồng lúc hoàng hôn

Mở app Gia Súc Xem app khác