Khẩu phần cho bò sữa phải đổi theo giai đoạn của chu kỳ sữa: đầu kỳ sau đẻ cần năng lượng cao nhất nhưng bò lại ăn chưa được nhiều, giữa kỳ giữ ổn định, cuối kỳ và cạn sữa thì giảm tinh để bò không quá béo trước lứa đẻ sau. Nền khẩu phần luôn là thức ăn thô chất lượng tốt (cỏ xanh non, cỏ ngô ủ chua) đủ xơ để giữ tỉ lệ mỡ sữa, cộng thức ăn tinh tính theo sản lượng sữa, khoáng và nước uống tự do. Tổng chất khô bò sữa đang vắt ăn mỗi ngày thường khoảng 3–3,5% khối lượng cơ thể, cao hơn bò thịt.
Chu kỳ sữa và nhu cầu từng giai đoạn
Một chu kỳ của bò sữa thường được chia như sau (khoảng tham khảo trong tài liệu kỹ thuật):
| Giai đoạn | Thời gian tham khảo | Đặc điểm | Trọng tâm khẩu phần |
|---|---|---|---|
| Đầu kỳ | Từ đẻ tới khoảng 100 ngày | Sữa lên nhanh, đạt đỉnh sau vài tuần; bò ăn chưa theo kịp nên gầy đi | Thức ăn chất lượng cao nhất, tăng tinh dần, đủ đạm |
| Giữa kỳ | Khoảng 100–200 ngày | Sữa giảm dần đều; bò ăn được nhiều, bắt đầu hồi phục thể trạng; thường đã phối và mang thai | Giữ ổn định, tinh theo sản lượng |
| Cuối kỳ | Khoảng 200 ngày tới cạn sữa | Sữa thấp; bò dễ béo lên | Giảm tinh, kiểm soát thể trạng |
| Cạn sữa | Khoảng 45–60 ngày trước khi đẻ | Bầu vú nghỉ ngơi, thai lớn nhanh | Nhiều thô, ít tinh; vài tuần cuối tăng nhẹ để chuẩn bị đẻ |
Ở đầu kỳ, bò lấy mỡ dự trữ để bù năng lượng thiếu. Đây là lý do bò sữa sau đẻ trông gầy rộc đi. Gầy vừa phải là bình thường; gầy quá nhanh thì bò dễ chậm động dục, dễ mắc bệnh chuyển hoá.
Thức ăn thô: nền của sữa
Ở bò sữa, chất lượng thức ăn thô quan trọng hơn ở bò thịt. Cỏ non, mềm, đúng tuổi cắt, cỏ ngô ủ chua tốt cho bò ăn được nhiều và tiêu hoá nhiều. Thức ăn thô đủ xơ dài giúp bò nhai lại, tiết nước bọt, giữ dạ cỏ ổn định và giữ tỉ lệ mỡ sữa, một trong các chỉ tiêu nhà máy dùng để tính giá.
- Ưu tiên cỏ cắt đúng tuổi; cỏ già làm bò ăn ít, sữa giảm.
- Cỏ ngô ủ chua là nguồn năng lượng thô rất tốt, nhiều trại bò sữa coi là thức ăn nền quanh năm.
- Rơm chỉ nên chiếm phần nhỏ ở bò đang vắt sữa; hợp hơn với bò cạn sữa.
- Cây họ đậu như Stylo, thân lá lạc bổ sung đạm, giảm bớt tiền khô dầu.
Thức ăn tinh: tính theo sản lượng sữa
Cách tính phổ biến trong tài liệu khuyến nông cho bò lai HF là chia nhu cầu làm hai phần: phần duy trì (để bò sống và giữ thể trạng) và phần sản xuất (để làm ra sữa). Nếu thức ăn thô chất lượng tốt, nó có thể đáp ứng phần duy trì và một phần sữa; phần sữa còn lại do thức ăn tinh bù vào, thường tính theo tỉ lệ một lượng tinh nhất định cho mỗi ký sữa vượt mức. Tỉ lệ này phụ thuộc vào chất lượng tinh và chất lượng thô, nên hãy hỏi hãng thức ăn hoặc kỹ thuật viên công ty sữa tỉ lệ áp dụng cho loại cám mình dùng.
Ví dụ giả định để hiểu cách tính:
- Bò lai HF nặng 450 kg, đang cho 15 kg sữa mỗi ngày.
- Giả sử nguồn thô tốt của trại đủ cho duy trì và khoảng 5 kg sữa.
- Phần còn lại là 10 kg sữa cần thức ăn tinh bù.
- Nếu hướng dẫn của loại cám đang dùng là khoảng 0,4–0,5 kg tinh cho mỗi ký sữa, thì phần tinh cho sữa vào khoảng 4–5 kg mỗi ngày.
- Kiểm tra lại tổng chất khô có nằm trong khoảng 3–3,5% thể trọng (khoảng 13,5–16 kg chất khô với bò 450 kg) và tỉ lệ thô không quá thấp.
Con số trong ví dụ là giả định. Trên thực tế, chủ trại điều chỉnh từng con theo sản lượng thật, thể trạng và giai đoạn.
Chấm điểm thể trạng: công cụ chỉnh khẩu phần
Chấm điểm thể trạng (BCS, Body Condition Score) là cách đánh giá độ béo gầy của bò bằng mắt và tay, phổ biến theo thang 1 tới 5: 1 là rất gầy, 5 là rất béo. Người chấm nhìn và sờ các vùng xương sống lưng, mỏm xương ngang, xương hông, xương ngồi, gốc đuôi.
- Lúc đẻ: nhiều tài liệu khuyên bò ở mức khoảng 3–3,5, không quá gầy, không quá béo.
- Đầu kỳ: bò giảm điểm là bình thường, nhưng không nên tụt quá sâu.
- Giữa và cuối kỳ: bò hồi phục dần về mức như lúc đẻ.
- Cạn sữa: giữ ổn định; không vỗ béo bò cạn sữa.
Bò cạn sữa quá béo là nguyên nhân hay gặp của đẻ khó, sát nhau và bệnh chuyển hoá sau đẻ. Những ca đó đều phải gọi thú y, nhưng phòng từ khẩu phần thì rẻ hơn nhiều.
Nước và khoáng cho bò sữa
Sữa gần chín phần mười là nước. Bò sữa đang vắt cần lượng nước rất lớn, uống nhiều nhất ngay sau khi vắt. Đặt máng nước ở lối ra từ chỗ vắt, giữ nước luôn sạch, mát. Thiếu nước một ngày là sữa giảm ngay hôm đó.
Bò sữa đưa nhiều canxi, phốt pho ra theo sữa, nên cần khoáng đầy đủ: đá liếm và premix khoáng theo hướng dẫn. Giai đoạn cạn sữa có yêu cầu khoáng riêng để phòng hạ canxi huyết sau đẻ; hỏi kỹ thuật viên về khẩu phần cạn sữa, không tự cho bò ăn nhiều canxi trước đẻ.
Nhịp cho ăn và mùi vị sữa
Thức ăn và mùi vị sữa
Một số thức ăn có mùi mạnh có thể làm sữa ám mùi: hành tỏi dại lẫn trong cỏ, một số phụ phẩm lên men, thức ăn ủ chua hỏng. Để tránh:
- Cho ăn thức ăn ủ chua, thức ăn có mùi sau khi vắt sữa, không cho ngay trước giờ vắt.
- Không vắt sữa trong khu để thức ăn ủ hoặc gần hố phân.
- Bỏ hẳn thức ăn ủ mốc, thối.
Lưu ý thêm: sữa của bò đang được điều trị bằng thuốc phải loại bỏ theo đúng thời gian ngưng sữa thú y chỉ định, không được bán cho nhà máy.
Đổi khẩu phần và nhịp cho ăn
- Cho ăn theo giờ cố định, gắn với giờ vắt sữa.
- Chia tinh thành nhiều bữa; bò sữa cao sản nên có ít nhất hai đến ba bữa tinh.
- Đổi loại cám, đổi nguồn cỏ thì đổi từ từ trong khoảng một đến hai tuần.
- Sau đẻ, tăng tinh dần chứ không tăng vọt ngay ngày đầu.
- Theo dõi sữa từng con hằng ngày; sữa tụt đột ngột cả đàn thường do thức ăn hoặc nước, sữa tụt một con thì xem con đó có ốm không.
Bắt tay làm và học thêm
Bảng khẩu phần theo nhóm
Với đàn từ năm con trở lên, chia bò thành vài nhóm: đầu kỳ sữa cao, giữa kỳ, cuối kỳ, cạn sữa. Làm một bảng treo ở kho thức ăn, mỗi nhóm một dòng: số ký cỏ, số ký ủ chua, số ký tinh mỗi bữa, khoáng. Mỗi tuần, đối chiếu sản lượng sữa và điểm thể trạng từng con để chuyển con nào sang nhóm nào. Cách chia nhóm đơn giản này giúp tránh hai lỗi tốn kém nhất: cho bò cuối kỳ ăn như bò đầu kỳ (bò béo, phí tiền) và cho bò đầu kỳ ăn như bò cuối kỳ (mất sữa, chậm động dục).
Học thêm ở đâu
Các công ty sữa thu mua thường có đội kỹ thuật hỗ trợ hộ cung cấp sữa về khẩu phần, trồng cỏ, ủ chua; đây là nguồn tư vấn sát thực tế nhất. Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, các vùng bò sữa lâu năm như Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (Hà Nội), Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh), Đức Trọng (Lâm Đồng) có nhiều trại mẫu để tham quan. Viện Chăn nuôi có tài liệu về nhu cầu dinh dưỡng bò sữa trong điều kiện Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Bò sữa ăn bao nhiêu thức ăn một ngày?
Bò sữa đang vắt thường ăn tổng chất khô khoảng 3–3,5% khối lượng cơ thể mỗi ngày, ví dụ bò 450 kg ăn khoảng 13,5–16 kg chất khô. Quy ra cỏ tươi, ủ chua và tinh thì khối lượng lớn hơn nhiều. Lượng cụ thể thay đổi theo giai đoạn và sản lượng sữa.
Bò sữa cho ăn bao nhiêu cám?
Thức ăn tinh thường được tính theo sản lượng sữa vượt mức mà thức ăn thô đáp ứng được. Tỉ lệ cụ thể phụ thuộc chất lượng cám và cỏ, nên hỏi hãng thức ăn hoặc kỹ thuật viên công ty sữa. Tinh nên chia nhiều bữa và tăng dần sau đẻ.
Bò cạn sữa nên cho ăn gì?
Bò cạn sữa nên ăn nhiều thức ăn thô, ít tinh để giữ thể trạng ổn định, không để quá béo. Vài tuần cuối trước đẻ có thể tăng nhẹ theo hướng dẫn kỹ thuật. Khẩu phần khoáng giai đoạn này cần hỏi kỹ thuật viên để phòng hạ canxi huyết sau đẻ.
Vì sao sữa bò bị giảm mỡ?
Tỉ lệ mỡ sữa thấp thường liên quan tới khẩu phần thiếu xơ dài, quá nhiều tinh hoặc cỏ băm quá vụn, làm bò nhai lại ít. Tăng thức ăn thô chất lượng, giữ sợi đủ dài và chia nhỏ bữa tinh thường giúp cải thiện. Giống bò và giai đoạn chu kỳ sữa cũng ảnh hưởng.
Chấm điểm thể trạng bò sữa là gì?
Là cách đánh giá độ béo gầy của bò theo thang thường dùng từ 1 tới 5, bằng cách nhìn và sờ vùng lưng, hông, gốc đuôi. Lúc đẻ bò nên ở mức khoảng 3–3,5. Điểm thể trạng giúp chủ trại chỉnh khẩu phần theo từng giai đoạn.