Muốn biết nuôi trâu bò dê có lãi hay không, trang trại nhỏ cần ít nhất bốn cuốn sổ: sổ thu chi ghi mọi khoản tiền vào ra, sổ đàn ghi từng con, sổ thức ăn ghi lượng và tiền thức ăn, và sổ thú y – sinh sản ghi tiêm phòng, điều trị, phối giống, đẻ. Cuối mỗi tháng cộng lại, tính vài chỉ số như chi phí mỗi con mỗi ngày, chi phí một kg tăng trọng hay giá thành một con bê cai sữa. Không cần phần mềm, một quyển vở kẻ cột hoặc bảng tính trên điện thoại là đủ.
Vì sao phải ghi khi "nhìn là biết"
Nhiều hộ nuôi bò cả chục năm vẫn trả lời "chắc có lãi" khi được hỏi lãi bao nhiêu. Lý do quen thuộc:
- Tiền nuôi bò và tiền chợ của gia đình lẫn vào nhau.
- Cỏ tự trồng, rơm nhà có, công nhà làm thì "không mất tiền".
- Bán một con bò được món tiền lớn nên cảm thấy lãi, trong khi tiền bỏ ra rải rác cả năm không ai cộng.
- Bò chết, bò chậm sinh thì nhớ chuyện buồn nhưng không ai tính ra tiền.
Ghi chép không phải để làm báo cáo mà để trả lời ba câu: tiền đang chảy đi đâu, con nào đang kéo lùi đàn, và nuôi thêm có đáng không.
Bốn cuốn sổ và ghi gì vào từng cuốn
1. Sổ thu chi
| Ngày | Nội dung | Nhóm | Chi | Thu | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| 03 | Mua 10 bao cám | Thức ăn | x | Cho đàn vỗ béo | |
| 08 | Công thú y tiêm phòng | Thú y | x | Cả đàn | |
| 15 | Bán bò số 25-03 | Bán gia súc | x | Bán theo kg hơi | |
| 20 | Bán phân bò | Phụ phẩm | x |
Chia nhóm cố định: con giống, thức ăn, thú y, điện nước, sửa chuồng – dụng cụ, vận chuyển, lãi vay, thuê công, khác cho phần chi; bán gia súc, bán sữa, bán phân, khác cho phần thu. Có nhóm thì cuối tháng cộng rất nhanh.
Nguyên tắc vàng: tách tiền trại khỏi tiền nhà. Ít nhất là một cái ví, một tài khoản hoặc một trang sổ riêng.
2. Sổ đàn
Mỗi con một dòng, ghi số tai, ngày sinh hoặc ngày mua, giá mua, nguồn gốc, giới tính, đặc điểm, mẹ con, ngày bán hoặc chết, giá bán. Cách bấm số tai và đặt số có ở bài riêng trong mục Chăn thả & tập tính. Thêm cột khối lượng theo ngày đo nếu có cân hoặc thước dây.
3. Sổ thức ăn
Ghi theo ngày hoặc theo đợt: loại thức ăn, số lượng nhập, giá, dùng cho nhóm nào. Thức ăn tự làm ra như cỏ trồng, rơm, thân ngô ủ chua cũng ghi số lượng và đặt một giá quy đổi, ví dụ bằng giá mua ngoài hoặc bằng chi phí trồng. Không làm vậy thì phần lớn chi phí thật bị giấu đi.
4. Sổ thú y – sinh sản
- Ngày tiêm phòng, loại vaccine, người tiêm.
- Ngày con nào ốm, dấu hiệu, thú y chẩn đoán gì, đã dùng thuốc gì theo chỉ định của thú y, thời gian ngưng thuốc trước khi được bán, được vắt sữa giao.
- Ngày động dục, ngày phối, tinh của bò đực nào, kết quả khám thai.
- Ngày đẻ, đẻ dễ hay khó, bê nghé đực hay cái, khối lượng sơ sinh nếu có.
- Ngày cai sữa.
Sổ này còn là bằng chứng khi cần chứng minh nguồn gốc, tiêm phòng với người mua, với cơ quan thú y, với chuỗi thu mua.
Những chỉ số nên tính mỗi tháng, mỗi năm
| Chỉ số | Cách tính | Dùng để làm gì |
|---|---|---|
| Chi phí mỗi con mỗi ngày | Tổng chi trong tháng ÷ số con ÷ số ngày | So các tháng, phát hiện tháng chi bất thường |
| Chi phí một kg tăng trọng (bò thịt) | Chi phí thức ăn của nhóm ÷ tổng kg tăng | So với giá bán một kg hơi để biết vỗ béo còn đáng không |
| Thu nhập trừ chi phí thức ăn (bò sữa) | Tiền sữa mỗi ngày − tiền thức ăn đàn đang vắt mỗi ngày | Điều chỉnh khẩu phần |
| Khoảng cách lứa đẻ | Số ngày giữa hai lần đẻ liên tiếp của một con | Phát hiện bò cái chậm sinh |
| Tỉ lệ bê nghé sống tới cai sữa | Số con cai sữa ÷ số con đẻ ra | Đánh giá chăm sóc con non |
| Giá thành một con bê cai sữa | Chi phí nuôi đàn bò mẹ cả năm ÷ số bê cai sữa trong năm | Biết nuôi bò sinh sản có lãi khi bán bê không |
| Lãi trước công | Tổng thu − tổng chi (chưa tính công nhà) | Chia cho số ngày công để biết công mình được trả bao nhiêu |
Ví dụ giá thành một con bê cai sữa
Ví dụ giả định, chỉ để minh hoạ cách tính. Một hộ có 6 bò cái sinh sản. Trong năm, chi phí nuôi đàn bò mẹ gồm thức ăn, thú y, khấu hao chuồng, tinh phối, lãi vốn cộng lại là 36.000 đơn vị. Trong năm có 5 bò đẻ và cả 5 con bê được nuôi tới cai sữa; một bò cái không đẻ. Giá thành mỗi bê cai sữa là 36.000 ÷ 5 = 7.200 đơn vị. Nếu bê cai sữa bán được ít hơn con số đó thì đàn bò mẹ đang lỗ, dù năm nào cũng "có bê bán".
Ví dụ cũng chỉ ra đòn bẩy lớn nhất: nếu con bò cái không đẻ kia cũng cho được một bê cai sữa, tức 6 con thay vì 5, giá thành tụt xuống 6.000 đơn vị. Vì vậy sổ sinh sản quan trọng không kém sổ tiền.
Những khoản hay quên
- Khấu hao chuồng, máy băm cỏ, máy vắt sữa. Chia giá trị cho số năm dùng được, mỗi năm tính một phần.
- Lãi vốn. Tiền mua bò nếu gửi tiết kiệm cũng sinh lãi; tiền vay thì có lãi phải trả.
- Thức ăn tự có. Cỏ, rơm, ngô nhà làm ra đều có giá trị.
- Con chết, con loại thải. Ghi giá trị mất đi.
- Thay đổi giá trị đàn. Cuối năm đàn có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn đầu năm. Ước giá trị đàn đầu năm và cuối năm, phần chênh lệch cũng là lãi hoặc lỗ dù chưa bán.
- Công lao động nhà. Không phải trả tiền ra, nhưng phải biết để so với đi làm thuê.
Ghi bằng gì cho bền
- Vở kẻ cột: rẻ, bền, ai trong nhà cũng ghi được. Nên để ở chỗ cố định gần chuồng, kèm cây bút.
- Bảng tính trên điện thoại: cộng tự động, sao lưu được, gửi được cho người khác xem. Lập sẵn mấy trang: thu chi, đàn, thức ăn, thú y – sinh sản.
- Ảnh chụp hoá đơn lưu theo tháng.
- Bảng trắng ở chuồng cho những việc hằng ngày: con nào đang điều trị, ngày dự kiến đẻ, ngày hết thời gian ngưng thuốc.
Bí quyết duy nhất: ghi ngay trong ngày. Để dồn cuối tuần là quên, để dồn cuối tháng là bịa.
Bắt tay làm: lịch ghi chép một tháng
- Mỗi ngày: ghi khoản chi, khoản thu phát sinh; ghi việc thú y, sinh sản nếu có.
- Mỗi tuần: kiểm tra sổ thức ăn, số bao còn lại trong kho.
- Mỗi hai tới bốn tuần: cân hoặc đo thước dây nhóm bò vỗ béo, bò tơ.
- Cuối tháng: cộng chi theo nhóm, cộng thu, tính chi phí mỗi con mỗi ngày, so với tháng trước.
- Cuối năm: tính lãi trước công, giá thành bê cai sữa hoặc chi phí một kg tăng trọng, khoảng cách lứa đẻ trung bình; quyết định giữ, loại hay mua thêm con nào.
Học thêm ở đâu
- Trung tâm khuyến nông tỉnh, hội nông dân: nhiều nơi có mẫu sổ ghi chép nông hộ và lớp hướng dẫn.
- Hợp tác xã chăn nuôi: thường yêu cầu thành viên ghi chép theo mẫu chung; tham gia là có người hướng dẫn.
- Công ty thu mua sữa, thu mua bò: chương trình vùng nguyên liệu thường cấp sổ và hướng dẫn ghi.
Câu hỏi thường gặp
Trang trại chăn nuôi nhỏ cần ghi những sổ gì?
Ít nhất bốn sổ: sổ thu chi ghi mọi khoản tiền vào ra theo nhóm, sổ đàn ghi từng con, sổ thức ăn ghi lượng và tiền thức ăn kể cả thức ăn tự có, và sổ thú y – sinh sản ghi tiêm phòng, điều trị, phối giống, đẻ.
Làm sao biết nuôi bò có lãi không?
Cộng mọi khoản thu và chi trong năm, kể cả khấu hao chuồng, lãi vốn, thức ăn tự có, giá trị con chết, rồi tính thêm chênh lệch giá trị đàn đầu năm và cuối năm. Kết quả là lãi trước công; chia cho số ngày công để biết công mình được trả bao nhiêu.
Giá thành một con bê cai sữa tính thế nào?
Lấy tổng chi phí nuôi đàn bò mẹ cả năm chia cho số bê cai sữa trong năm. Nếu bê cai sữa bán được ít hơn con số này thì đàn bò sinh sản đang lỗ. Thêm được một con bê cai sữa mỗi năm làm giá thành giảm đáng kể.
Có cần phần mềm để quản lý trang trại nhỏ không?
Không bắt buộc. Một quyển vở kẻ cột hoặc bảng tính trên điện thoại là đủ cho hộ nuôi nhỏ. Điều quan trọng là ghi ngay trong ngày, chia nhóm chi thu cố định và tổng kết mỗi cuối tháng.
Vì sao phải ghi thời gian ngưng thuốc vào sổ?
Gia súc vừa được điều trị phải chờ hết thời gian ngưng thuốc do thú y chỉ định mới được bán thịt hoặc giao sữa. Ghi rõ ngày hết hạn giúp tránh bán nhầm, tránh bị nhà máy, lò mổ phát hiện tồn dư và bảo vệ người tiêu dùng.