Muốn ước cân một con bò không có cân, đo vòng ngực sát sau bả vai và dài thân chéo từ u vai tới u xương ngồi, tính bằng mét, rồi áp công thức khuyến nông hay dùng: bò P (kg) ≈ 88,4 × vòng ngực² × dài thân chéo; trâu P ≈ 90 × vòng ngực² × dài thân chéo. Sai số thường vài phần trăm tới khoảng 10%. Còn tỉ lệ thịt xẻ là phần trăm khối lượng thân thịt so với khối lượng bò sống, dùng để quy đổi giữa giá bò hơi và giá thịt.
Bốn con số người bán bò cần phân biệt
| Tên gọi | Là gì | Ghi chú |
|---|---|---|
| Khối lượng hơi (khối lượng sống) | Cân cả con bò còn sống | Thay đổi theo bụng no hay đói, khát hay vừa uống |
| Khối lượng thịt xẻ (thân thịt) | Phần còn lại sau khi bỏ da, đầu, phần chân dưới, nội tạng, máu | Cách cắt mỗi lò có thể khác nhau đôi chút |
| Tỉ lệ thịt xẻ | Thịt xẻ ÷ khối lượng hơi × 100% | Con số lò mổ, lái buôn dùng để định giá |
| Tỉ lệ thịt tinh (thịt lọc) | Thịt đã lọc bỏ xương ÷ khối lượng hơi × 100% | Thấp hơn tỉ lệ thịt xẻ khá nhiều |
Khi nói chuyện giá với lái buôn, phải hỏi rõ đang nói giá theo loại nào. Lẫn giữa giá hơi và giá thịt xẻ là cách mất tiền nhanh nhất.
Tỉ lệ thịt xẻ của các nhóm bò
Tỉ lệ thịt xẻ phụ thuộc giống, độ béo, tuổi, giới tính và cả việc bò có được nhịn ăn trước khi cân hay không. Các khoảng dưới đây là khoảng tham khảo hay gặp trong tài liệu kỹ thuật và thực tế giết mổ trong nước; từng con có thể nằm ngoài khoảng.
| Nhóm bò (tham khảo) | Tỉ lệ thịt xẻ thường gặp |
|---|---|
| Bò vàng nội, bò gầy | Khoảng 40–45% |
| Bò lai Sind đã vỗ béo | Khoảng 45–50% |
| Bò lai Brahman, Droughtmaster, bò Úc vỗ béo | Khoảng 50–55% |
| Bò lai chuyên thịt cơ bắp như lai BBB | Có thể cao hơn, khoảng 55–60% ở con tốt |
| Trâu | Thường thấp hơn bò cùng độ béo vì da dày, đầu nặng |
Những gì làm tỉ lệ thịt xẻ thay đổi
- Bụng đầy. Bò vừa ăn no, uống căng nặng thêm vài phần trăm nhưng phần đó là cỏ và nước trong dạ cỏ. Tỉ lệ thịt xẻ tính trên số cân đó sẽ thấp.
- Độ béo. Bò vỗ béo tốt có tỉ lệ cao hơn bò gầy cùng giống.
- Giống. Giống chuyên thịt cơ bắp nhiều, xương nhỏ hơn so với tầm vóc.
- Cách xẻ. Bỏ chân ở khớp nào, có giữ đuôi, thận, mỡ bụng hay không làm con số chênh nhau.
Quy đổi giữa giá hơi và giá thịt
Công thức cốt lõi:
- Giá hơi tương đương = Giá thịt xẻ × Tỉ lệ thịt xẻ
- Giá thịt xẻ tương đương = Giá hơi ÷ Tỉ lệ thịt xẻ
Ví dụ giả định, không phải giá thị trường: một lò mổ trả giá thịt xẻ 200 đơn vị/kg, còn một lái buôn trả giá hơi 95 đơn vị/kg cho cùng con bò.
| Tỉ lệ thịt xẻ của con bò | Giá hơi tương đương từ đề nghị của lò mổ | So với lái buôn (95) |
|---|---|---|
| 45% | 200 × 0,45 = 90 | Lái buôn trả cao hơn |
| 50% | 200 × 0,50 = 100 | Lò mổ trả cao hơn |
| 55% | 200 × 0,55 = 110 | Lò mổ trả cao hơn hẳn |
Bài học: con bò càng nhiều thịt, càng nên bán theo thịt xẻ; con bò gầy, nhiều xương thì bán theo hơi có thể lợi hơn. Nhưng muốn chọn đúng, phải ước được tỉ lệ thịt xẻ của con bò mình, mà cách tốt nhất là hỏi kết quả xẻ của những con trước đã bán, ghi lại.
Đo thước dây đúng cách
Chuẩn bị
- Thước dây vải hoặc thước dây nhựa mềm, dài từ 2,5 mét trở lên, chưa bị dãn.
- Một người giữ bò, một người đo.
- Chỗ nền phẳng; bò đứng thẳng, bốn chân vuông góc với mặt đất, đầu ở tư thế bình thường, không ngẩng, không cúi.
- Đo buổi sáng, trước khi cho ăn nhiều, để kết quả các lần đo so được với nhau.
Vòng ngực (VN)
Vòng thước quanh ngực, sát ngay sau bả vai và sau chân trước, vuông góc với sống lưng. Kéo vừa khít, không siết lún da, không để lỏng. Đọc số khi bò thở ra bình thường.
Dài thân chéo (DTC)
Đo từ điểm nhô ra phía trước của khớp bả vai, chỗ u vai trước, tới điểm nhô ra phía sau của xương ngồi, chỗ u xương ngồi ở hai bên gốc đuôi. Thước căng thẳng, đo một bên thân.
Mỗi số đo hai, ba lần, lấy trung bình. Sai một hai phân ở vòng ngực đã làm khối lượng ước lệch đáng kể, vì vòng ngực được bình phương.
Công thức và ví dụ tính
Công thức thường được tài liệu khuyến nông trong nước dùng, với VN và DTC tính bằng mét:
- Bò: P (kg) ≈ 88,4 × VN² × DTC
- Trâu: P (kg) ≈ 90 × VN² × DTC
| Ví dụ | Vòng ngực | Dài thân chéo | Tính | Khối lượng ước |
|---|---|---|---|---|
| Bò lai | 1,60 m | 1,30 m | 88,4 × 2,56 × 1,30 | khoảng 294 kg |
| Bò lớn | 1,80 m | 1,45 m | 88,4 × 3,24 × 1,45 | khoảng 415 kg |
| Trâu | 1,80 m | 1,40 m | 90 × 3,24 × 1,40 | khoảng 408 kg |
Ở các nước nói tiếng Anh, người ta dùng công thức tương tự tính bằng inch và pound, thường gọi là công thức Schaeffer. Quy ra mét và kg, hệ số của nó khoảng 92, khá gần với hệ số 88,4 ở trên. Điều đó cho thấy công thức này dựa trên cùng một ý: thân bò gần giống một khối trụ, khối lượng tỉ lệ với bình phương vòng ngực nhân chiều dài.
Thước đo cân in sẵn
Có loại thước dây in sẵn số kg theo vòng ngực, chỉ cần quấn quanh ngực là đọc ra. Tiện, nhưng loại này thường được lập cho một nhóm giống nhất định; dùng cho giống khác, nhất là bò vàng nhỏ hoặc bò lai siêu thịt, có thể sai nhiều. Nếu dùng, hãy đối chiếu vài lần với cân thật để biết thước của mình lệch về phía nào.
Sai số và cách dùng con số cho khôn
- Công thức cho sai số. Bò rất béo, bò chửa, bò bụng to, bò quá gầy đều làm kết quả lệch. Xem kết quả là con số tham khảo để mặc cả, không phải con số tuyệt đối.
- Tự hiệu chỉnh. Mỗi lần có dịp cân thật, ghi cả số đo thước lẫn số cân. Sau năm bảy lần sẽ biết công thức sai về phía nào với bò nhà mình.
- Theo dõi tăng trọng. Đo cùng một con mỗi hai tới bốn tuần, cùng giờ, cùng người đo. Dù sai số tuyệt đối có, mức tăng giữa các lần vẫn khá đáng tin.
- Ưu tiên cân thật khi bán. Nhiều xã, hợp tác xã, điểm thu mua có cân gia súc. Cân thật vẫn là cách công bằng nhất cho cả người mua lẫn người bán.
Bán "bò đứng" theo mắt ước
Ở nhiều chợ, lái buôn trả giá theo con, ước bằng mắt. Lái lâu năm ước rất giỏi, còn người nuôi thì không. Tự đo thước trước khi bán, kết hợp hỏi giá hơi ở vài nơi, sẽ giúp bạn biết giá được trả đang tương đương bao nhiêu mỗi kg.
Bắt tay làm
- Mua một thước dây mềm dài 2,5 mét trở lên.
- Tập đo vòng ngực và dài thân chéo trên một con bò hiền, đo ba lần lấy trung bình.
- Tính khối lượng ước theo công thức, ghi vào sổ cùng ngày đo.
- Lần tới có dịp cân thật, ghi cả hai số để hiệu chỉnh.
- Khi bán, hỏi rõ giá theo hơi hay theo thịt xẻ, quy đổi bằng công thức ở trên rồi mới quyết định.
- Xin lò mổ cho biết khối lượng thịt xẻ của con đã bán để tính tỉ lệ thịt xẻ thật của đàn nhà mình.
Muốn học thêm, hỏi cán bộ khuyến nông xã hoặc tìm các tài liệu tập huấn chăn nuôi bò thịt của trung tâm khuyến nông tỉnh, vốn thường có phần hướng dẫn đo thước dây kèm hình vẽ vị trí đo.
Câu hỏi thường gặp
Công thức ước cân bò bằng thước dây là gì?
Công thức hay dùng trong tài liệu khuyến nông là P (kg) ≈ 88,4 × vòng ngực² × dài thân chéo với bò, và P ≈ 90 × vòng ngực² × dài thân chéo với trâu, các số đo tính bằng mét. Kết quả có sai số, nên dùng để tham khảo và theo dõi tăng trọng.
Đo vòng ngực bò ở đâu?
Vòng thước quanh ngực sát ngay sau bả vai và chân trước, vuông góc với sống lưng, kéo vừa khít không siết. Bò phải đứng thẳng trên nền phẳng, đầu ở tư thế bình thường. Đo hai ba lần rồi lấy trung bình.
Tỉ lệ thịt xẻ của bò là bao nhiêu?
Tuỳ giống và độ béo. Theo các khoảng tham khảo, bò vàng nội thường khoảng 40–45%, bò lai Sind vỗ béo khoảng 45–50%, bò lai Brahman, bò Úc vỗ béo khoảng 50–55%, bò lai chuyên thịt cơ bắp tốt có thể cao hơn.
Quy đổi giá bò hơi sang giá thịt thế nào?
Giá hơi tương đương bằng giá thịt xẻ nhân tỉ lệ thịt xẻ. Ngược lại, giá thịt xẻ tương đương bằng giá hơi chia tỉ lệ thịt xẻ. Bò càng nhiều thịt thì bán theo thịt xẻ càng có lợi so với bán theo hơi.
Tỉ lệ thịt xẻ khác tỉ lệ thịt tinh thế nào?
Thịt xẻ là thân thịt còn cả xương sau khi bỏ da, đầu, chân dưới, nội tạng. Thịt tinh là thịt đã lọc bỏ xương. Vì vậy tỉ lệ thịt tinh luôn thấp hơn tỉ lệ thịt xẻ của cùng con bò.