Trâu, bò, dê, cừu đều là loài ăn cỏ sống thành bầy và trong tự nhiên là con mồi của thú dữ. Vì vậy gần như mọi hành vi của chúng xoay quanh hai việc: ở gần đàn và né nguy hiểm. Người chăn hiểu hai điều này thì bớt phải quát tháo, roi vọt, con vật bớt hoảng, ăn khoẻ và dễ quản hơn hẳn.
Con mồi sống thành bầy: gốc của mọi hành vi
Hàng nghìn năm thuần hoá chưa xoá được bản năng của tổ tiên hoang dã. Một con bò đứng một mình giữa bãi là con bò đang lo sợ: nó ngóng, kêu, đi lại không yên và ăn kém. Đứng giữa đàn, nó yên tâm vì có nhiều cặp mắt cùng canh chừng.
Từ đó sinh ra mấy đặc điểm mà người nuôi nào cũng gặp:
- Sợ bị tách riêng. Con bò bị dắt riêng đi khám, đi bán thường giằng co, kêu rống. Cho một con "bạn" đi kèm thường dễ hơn nhiều so với lôi một mình.
- Đi theo con đầu. Khi một con chịu bước qua cổng, cả đàn thường nối theo. Ngược lại, một con khựng lại là cả hàng khựng.
- Nhạy với chuyển động và tiếng động lạ. Mắt đặt hai bên đầu cho tầm nhìn rất rộng nhưng nhìn sâu kém. Cái bóng loang lổ, túi ni lông bay, tiếng kim loại va nhau đều có thể khiến cả đàn giật mình.
- Bắt chước nhau. Một con nằm, những con khác dễ nằm theo; một con bỏ chạy, cả đàn chạy theo trước khi kịp biết vì sao.
Hiểu "bản năng con mồi" là chìa khoá cho mọi bài khác trong mục này: dồn đàn, đọc ngôn ngữ cơ thể, tìm con lạc, dùng chó chăn.
Thứ bậc trong đàn: ai ăn trước, ai nhường
Đàn gia súc không phải một đám đông ngang hàng. Chúng có thứ bậc khá rõ, xác lập qua những lần húc, đẩy, doạ nạt. Con có thứ bậc cao thường là con lớn tuổi, nặng cân, có sừng, hoặc đã ở trong đàn lâu. Khi thứ bậc đã ổn định, đánh nhau giảm hẳn: con dưới chỉ cần thấy con trên hất đầu là tự tránh.
Thứ bậc ảnh hưởng thẳng tới việc nuôi:
- Máng ăn chật thì con yếu đói. Con thứ bậc thấp bị đẩy ra, ăn sau, ăn phần thừa. Nhiều hộ thấy cả đàn ăn chung mà có con cứ gầy dần, nguyên nhân không phải bệnh mà là chỗ đứng ăn không đủ.
- Nhập đàn mới là xáo trộn. Mua thêm vài con về thả chung, mấy ngày đầu đàn sẽ húc nhau để sắp xếp lại. Con mới, nhất là con nhỏ, dễ bị thương, sảy thai nếu đang chửa.
- Cửa hẹp, lối hẹp là chỗ xô đẩy. Ở cổng chuồng, máng nước, con mạnh chặn con yếu.
Giảm xáo trộn khi nhập đàn
- Nhốt con mới ở ô riêng cạnh đàn cũ vài ngày, cho nhìn và ngửi nhau qua rào. Thời gian này đồng thời là thời gian cách ly theo dõi sức khoẻ.
- Thả chung ở bãi rộng thay vì trong chuồng chật, để con thua có chỗ lùi.
- Thả nhiều con mới cùng lúc tốt hơn thả từng con lẻ, vì con lẻ bị cả đàn dồn vào.
- Rải cỏ ở nhiều chỗ trong ngày đầu cho đàn bận ăn.
- Tách riêng con cái chửa gần đẻ và con non, không nhập đàn vào lúc đó.
Một ngày của con nhai lại
Con nhai lại sống theo nhịp ăn rồi nằm nhai. Cỏ vào dạ cỏ, sau đó được ợ lên nhai lại kỹ. Thời gian nhai lại gần ngang thời gian ăn. Một con bò nằm nhai trệu trạo, mắt lim dim là con bò khoẻ và thoải mái. Con đứng ủ rũ, không nhai lại cả buổi là dấu hiệu cần để ý.
| Hoạt động | Khoảng thời gian mỗi ngày (bò chăn thả, tham khảo) | Người chăn để ý gì |
|---|---|---|
| Gặm cỏ | Khoảng 7–10 giờ, chia nhiều cữ, đậm nhất lúc sáng sớm và chiều muộn | Thả vào giờ mát; trưa nắng gắt chúng tự tìm bóng râm |
| Nhai lại | Khoảng 6–8 giờ, phần lớn khi nằm nghỉ | Không nhai lại là tín hiệu sớm của nhiều chuyện không ổn |
| Nằm nghỉ | Bò sữa thường nằm 10–14 giờ | Nền ẩm, trơn, chật làm bò ít nằm, giảm sữa, hại móng |
| Uống nước | Nhiều lần, thường sau cữ ăn | Nước sạch, đủ chỗ uống, đặc biệt mùa nóng |
Đàn có xu hướng làm cùng một việc cùng lúc: cùng ăn, cùng nằm, cùng đi uống. Vì thế khi chỗ nằm hay chỗ uống thiếu, con yếu luôn chịu thiệt. Đây là lý do tài liệu kỹ thuật luôn tính chỗ ăn, chỗ nằm theo đầu con chứ không tính theo tổng diện tích chuồng.
Bốn loài, bốn tính nết
Gom chung "gia súc nhai lại" nhưng trâu, bò, dê, cừu có những khác biệt rõ mà người mới nuôi hay bỏ qua.
| Bò | Trâu | Dê | Cừu | |
|---|---|---|---|---|
| Cách ăn | Dùng lưỡi quấn cỏ rồi giật, ăn cỏ cao vừa | Ăn được cỏ thô, cỏ ngập nước, cây thuỷ sinh | Thích bứt lá, chồi, cành non; đứng hai chân sau với lên cao | Gặm sát gốc, ăn cỏ thấp, chọn kỹ |
| Với nước | Uống nhiều, không cần đằm | Rất cần tắm, đằm bùn để hạ nhiệt | Ghét mưa, ghét nền ướt | Ghét ẩm ướt, dễ hỏng móng ở bãi lầy |
| Độ kết bầy | Cao | Cao, quen người chăn quen | Vừa, hay tản ra tìm lá | Rất cao, gần như không rời đàn |
| Khi gặp nguy | Quay mặt nhìn, rồi chạy hoặc dồn lại | Có xu hướng đối mặt, con đầu đàn đứng chắn | Leo lên chỗ cao, tò mò quay lại nhìn | Chụm chặt thành khối rồi chạy theo con đầu |
| Tính tò mò | Vừa | Vừa, điềm tĩnh | Rất cao, hay phá rào, gặm đồ | Thấp, thận trọng |
Hai điểm đáng nhớ nhất. Thứ nhất, dê không phải cừu nhỏ: dê thông minh, lắm trò, cần chuồng sàn khô và rào chắc; cừu hiền nhưng kết bầy chặt tới mức một con hoảng là cả đàn chạy. Thứ hai, trâu không phải bò đen: trâu da dày, ít tuyến mồ hôi nên chịu nắng kém, cần nước để làm mát, đổi lại chịu ẩm, chịu bùn và ăn thô giỏi hơn bò.
Mẹ con: "nằm ẩn" và "đi theo"
Các nhà tập tính học chia con non móng guốc thành hai kiểu. Kiểu nằm ẩn: mẹ giấu con vào bụi, đi ăn rồi quay lại cho bú. Bê và dê con thuộc kiểu này trong những ngày đầu. Kiểu đi theo: con non lẽo đẽo theo mẹ ngay từ khi đứng dậy được. Cừu non thuộc kiểu này.
Biết vậy để khỏi hoảng khi thấy bò mẹ thả bê nằm một mình ở góc bãi, và để hiểu vì sao cừu non lạc mẹ trong lúc dồn đàn lại kêu thảm thiết.
Mấy giờ đầu sau đẻ là lúc mẹ con nhận nhau, chủ yếu qua mùi và tiếng. Mẹ liếm con, ngửi kỹ, ghi nhớ. Can thiệp quá nhiều vào lúc này, như lau rửa con bằng nước có mùi lạ, bế con đi xa, để người lạ vây quanh, có thể khiến mẹ, nhất là cừu và dê đẻ con so, chối con. Chi tiết chăm con non nằm ở mục Sinh sản; ở đây chỉ cần nhớ: giữ yên tĩnh, để mẹ con ở riêng một chỗ sạch và kín gió.
Gia súc nói chuyện bằng gì
Tiếng kêu
Bò rống gọi con, gọi đàn khi bị tách riêng, khi đói, khi động dục. Bò mẹ mới cai sữa bê có thể rống liên tục một hai ngày. Một con bò rống khác thường, kéo dài, kèm đứng không yên thì đáng để ra xem.
Mùi
Mùi là kênh thông tin lớn. Bò đực, dê đực hay ngửi nước tiểu con cái rồi ngẩng đầu, cong môi trên lên, gọi là phản xạ flehmen: chúng đang "đọc" xem con cái có động dục không. Dê đực mùa giao phối có mùi hôi đặc trưng, đủ để làm con cái ở gần động dục rõ hơn. Đó là lý do nhiều trại nuôi dê đực cách xa khu dê sữa.
Dáng người
Tai, đuôi, đầu và tư thế thân mình nói nhiều hơn tiếng kêu. Bài "Đọc ngôn ngữ cơ thể của bò" trong mục này đi sâu phần đó.
Đưa tập tính vào việc chăn hằng ngày
Không cần học thuật, chỉ cần vài thói quen. Bảng kiểm dưới đây dùng được cho hộ nuôi từ vài con tới vài chục con:
- Chỗ ăn đủ cho tất cả cùng ăn một lúc. Đứng nhìn một cữ ăn: có con nào bị đẩy ra ngoài không?
- Không để con nào ở một mình lâu nếu không cần cách ly. Phải cách ly thì cho nhìn thấy đàn qua rào.
- Thói quen cố định. Giờ thả, giờ về, giờ cho ăn đều đặn khiến đàn tự đi, đỡ công dồn.
- Người chăn quen mặt. Đàn quen giọng, quen dáng một người. Đổi người chăn đột ngột thường khiến đàn khó bảo vài hôm.
- Đi chậm, nói nhỏ. Chạy, la hét, vung gậy làm đàn hoảng; con hoảng dễ ngã, húc rào, sảy thai.
- Nhìn con đứng riêng. Con tự tách khỏi đàn, không ăn, không nhai lại thường đang ốm hoặc sắp đẻ. Đếm đàn mỗi tối và để ý con nào "lạc tính".
- Dọn vật lạ trên lối đi. Vũng nước loá, ống nhựa, quần áo phơi, bóng nắng loang trên lối dồn là những thứ khiến đàn khựng lại.
Một sai lầm hay gặp: coi con vật "lì", "ngang" rồi đánh mạnh hơn. Phần lớn lần con bò không chịu đi là vì nó thấy thứ gì đó làm nó sợ ở phía trước. Đứng vào chỗ con bò đứng, cúi xuống ngang tầm mắt nó mà nhìn, nhiều khi sẽ thấy ngay vật cản.
Học thêm ở đâu
- Trại mẫu và trung tâm giống: Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây thường đón khách tham quan theo đoàn; xem cách họ bố trí máng, lối đi là học được nhiều.
- Lớp khuyến nông của xã, tỉnh: nhiều lớp về chăn nuôi bò có phần quản lý đàn, hỏi cán bộ nông nghiệp xã để đăng ký.
- Sách về tập tính và phúc lợi động vật của Temple Grandin (có bài riêng trong mục này) và tài liệu phúc lợi động vật của FAO.
- Tự quan sát: dành một buổi chỉ ngồi xem đàn, ghi lại con nào ăn trước, con nào bị đẩy, con nào hay đứng riêng. Một buổi như vậy thường đáng giá hơn nhiều trang sách.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao bò bị tách riêng lại kêu và quậy?
Bò là loài sống bầy, bản năng coi việc bị tách khỏi đàn là nguy hiểm. Con bị tách sẽ lo sợ, rống gọi và tìm cách quay về. Khi cần đưa một con đi riêng, cho một con quen đi kèm sẽ đỡ vất vả và đỡ căng thẳng cho cả người lẫn vật.
Trong đàn bò, con nào làm đầu đàn?
Thường là con lớn tuổi, to con, có sừng hoặc đã ở trong đàn lâu. Thứ bậc xác lập qua những lần húc đẩy và khá ổn định nếu đàn không xáo trộn. Con dẫn đường khi di chuyển không nhất thiết là con có thứ bậc cao nhất.
Dê và cừu khác nhau về tập tính thế nào?
Dê tò mò, thích bứt lá cành cao, hay tản ra và giỏi leo trèo, phá rào. Cừu kết bầy rất chặt, gặm cỏ thấp sát gốc, khi hoảng thì chụm lại rồi chạy theo con đầu. Dê ghét mưa và nền ướt hơn cả cừu.
Nhập bò mới vào đàn cũ có cần cách ly không?
Nên. Nhốt con mới ở ô riêng gần đàn cũ một thời gian để theo dõi sức khoẻ và cho chúng làm quen qua rào. Thời gian cách ly cụ thể nên hỏi cán bộ thú y xã. Khi thả chung, chọn bãi rộng để con thua có chỗ tránh.
Bò không nhai lại có đáng lo không?
Một con bò khoẻ nhai lại nhiều giờ mỗi ngày, chủ yếu khi nằm nghỉ. Con đứng ủ rũ, bỏ ăn, không nhai lại suốt một buổi là dấu hiệu bất thường. Hãy cách ly, cho uống nước sạch và gọi thú y xã, nhất là khi kèm bụng chướng hoặc sốt.